Năm 2005, vợ chồng tôi đã làm thủ tục thay đổi cho con chúng tôi từ dân tộc Kinh (dân tộc của bố) sang dân tộc Tày (dân tộc của mẹ). Tuy nhiên, đi học cháu thường bị các bạn trêu chọc là “người...
Năm 2005, vợ chồng tôi đã làm thủ tục thay đổi cho con chúng tôi từ dân tộc Kinh (dân tộc của bố) sang dân tộc Tày (dân tộc của mẹ). Tuy nhiên, đi học cháu thường bị các bạn trêu chọc là “người dân tộc”. Nay, vợ chồng tôi muốn cho cháu thay đổi từ dân tộc Tày sang dân tộc Kinh có được không? Tôi được biết hiện nay Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật mới và thủ tục đã có những thay đổi. Xin hỏi trường hợp của con tôi thì cơ quan nào giải quyết và thủ tục như thế nào?
Trả lời:
Khoản 11 Điều 4 Luật Hộ tịch quy định: “Xác định lại dân tộc là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký xác định lại dân tộc của cá nhân theo quy định của Bộ luật dân sự.”
Tại Điều 29 Bộ luật Dân sự 2015 quy định quyền xác định, xác định lại dân tộc như sau:
“Điều 29. Quyền xác định, xác định lại dân tộc
1. Cá nhân có quyền xác định, xác định lại dân tộc của mình.
2. Cá nhân khi sinh ra được xác định dân tộc theo dân tộc của cha đẻ, mẹ đẻ. Trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ thuộc hai dân tộc khác nhau thì dân tộc của con được xác định theo dân tộc của cha đẻ hoặc mẹ đẻ theo thỏa thuận của cha đẻ, mẹ đẻ; trường hợp không có thỏa thuận thì dân tộc của con được xác định theo tập quán; trường hợp tập quán khác nhau thì dân tộc của con được xác định theo tập quán của dân tộc ít người hơn.
Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi, chưa xác định được cha đẻ, mẹ đẻ và được nhận làm con nuôi thì được xác định dân tộc theo dân tộc của cha nuôi hoặc mẹ nuôi theo thỏa thuận của cha mẹ nuôi. Trường hợp chỉ có cha nuôi hoặc mẹ nuôi thì dân tộc của trẻ em được xác định theo dân tộc của người đó.
Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi, chưa xác định được cha đẻ, mẹ đẻ và chưa được nhận làm con nuôi thì được xác định dân tộc theo đề nghị của người đứng đầu cơ sở nuôi dưỡng trẻ em đó hoặc theo đề nghị của người đang tạm thời nuôi dưỡng trẻ em vào thời điểm đăng ký khai sinh cho trẻ em.
3. Cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định lại dân tộc trong trường hợp sau đây:
a) Xác định lại theo dân tộc của cha đẻ hoặc mẹ đẻ trong trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ thuộc hai dân tộc khác nhau;
b) Xác định lại theo dân tộc của cha đẻ hoặc mẹ đẻ trong trường hợp con nuôi đã xác định được cha đẻ, mẹ đẻ của mình.
4. Việc xác định lại dân tộc cho người từ đủ mười lăm tuổi đến dưới mười tám tuổi phải được sự đồng ý của người đó.
5. Cấm lợi dụng việc xác định lại dân tộc nhằm mục đích trục lợi hoặc gây chia rẽ, phương hại đến sự đoàn kết của các dân tộc Việt Nam.”
Theo quy định này có thể hiểu điều kiện để có thể xem xét giải quyết việc xác định lại dân tộc cho một người là:
- Người đó có cha đẻ, mẹ đẻ thuộc hai dân tộc khác nhau;
Người đó đã từng được xác định dân tộc lần đầu theo dân tộc của cha đẻ hoặc dân tộc của mẹ đẻ;
- Nếu là người đã thành niên, thì người đó có quyền trực tiếp yêu cầu xác định lại dân tộc. Nếu là người chưa thành niên thì việc xác định lại dân tộc được thực hiện theo yêu cầu thống nhất của cha đẻ và mẹ đẻ hoặc của người giám hộ. Tuy nhiên, nếu đó là người chưa thành niên nhưng đã đủ 15 tuổi trở lên thì việc xác định lại dân tộc còn phải được sự đồng ý của chính người đó.
Như vậy, áp dụng vào trường hợp này có thể thấy yêu cầu của vợ chồng bạn về việc xác định lại dân tộc cho con của mình là chính đáng và có cơ sở pháp lý để giải quyết.
Về thẩm quyền giải quyết việc xác định lại dân tộc được quy định tại khoản 3 Điều 46 Luật Hộ tịch: “3. Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi đã đăng ký hộ tịch trước đây hoặc nơi cư trú của cá nhân có thẩm quyền giải quyết việc thay đổi, cải chính hộ tịch cho công dân Việt Nam từ đủ 14 tuổi trở lên cư trú ở trong nước; xác định lại dân tộc.”. Theo quy định này thì vợ chồng bạn có thể lựa chọn cơ quan đăng ký việc xác định lại dân tộc cho con là UBND cấp huyện, nơi mà trong địa hạt huyện đó con bạn đã được đăng ký khai sinh trước đây hoặc UBND cấp huyện nơi cư trú hiện tại của gia đình bạn.
Về thủ tục giải quyết việc xác định lại dân tộc được quy định tại Khoản 1 Điều 47 Luật Hộ tịch: “Trường hợp yêu cầu xác định lại dân tộc thì phải có giấy tờ làm căn cứ chứng minh theo quy định của pháp luật; trình tự được thực hiện theo quy định tại Điều 28 của Luật này.” Theo đó, các giấy tờ phải nộp là:
- Tờ khai xác định lại dân tộc theo mẫu quy định;
- Giấy tờ làm căn cứ chứng minh theo quy định của pháp luật (bản sao Giấy khai sinh hoặc CMND của vợ chồng bạn);
Các giấy tờ phải xuất trình:
- Bản chính Giấy khai sinh của con bạn;
- Sổ hộ khẩu gia đình;
Thời hạn giải quyết là 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ giấy tờ. Trường hợp cần phải xác minh thì thời hạn được kéo dài thêm không quá 03 ngày làm việc.
Admin PBGDPL