Tôi năm nay gần 80 tuổi. Tôi có một mảnh đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên tôi. Nay, thấy tuổi ngày càng cao, sức khỏe không tốt nên tôi muốn tặng cho thửa đất này cho cháu...
để đề nghị thực hiện thủ tục tặng cho. Tuy nhiên, cán bộ UBND xã bảo do cháu tôi chưa đủ 18 tuổi nên không thực hiện được thủ tục tặng cho. Vậy, cho tôi hỏi tôi muốn tặng cho thửa đất cho cháu tôi có thực hiện được không? Tôi phải thực hiện thủ tục như thế nào?
Trả lời:
- Khoản 12 Điều 3 Luật Đất đai 2024 quy định như sau: “Chuyển quyền sử dụng đất là việc chuyển giao quyền sử dụng đất từ người này sang người khác thông qua hình thức chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất”.
- Điều 45 Luật Đất đai 2024 quy định điều kiện thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất; nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất như sau:
“1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp thừa kế quyền sử dụng đất, chuyển đổi đất nông nghiệp khi dồn điền, đổi thửa, tặng cho quyền sử dụng đất cho Nhà nước, cộng đồng dân cư và trường hợp quy định tại khoản 7 Điều 124 và điểm a khoản 4 Điều 127 của Luật này;
b) Đất không có tranh chấp hoặc tranh chấp đã được giải quyết bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bản án, quyết định của Tòa án, quyết định hoặc phán quyết của Trọng tài đã có hiệu lực pháp luật;
c) Quyền sử dụng đất không bị kê biên, áp dụng biện pháp khác để bảo đảm thi hành án theo quy định của pháp luật thi hành án dân sự;
d) Trong thời hạn sử dụng đất;
đ) Quyền sử dụng đất không bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của pháp luật.
2. Trường hợp chủ đầu tư chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã có hạ tầng kỹ thuật trong dự án bất động sản thì ngoài các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này còn phải đáp ứng điều kiện khác theo quy định của Luật Kinh doanh bất động sản, Luật Nhà ở.
3. Người sử dụng đất khi thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất thì ngoài các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này còn phải đáp ứng các điều kiện theo các trường hợp sau đây:
a) Đối với trường hợp mua, bán tài sản gắn liền với đất, quyền thuê trong hợp đồng thuê đất được Nhà nước cho thuê thu tiền thuê đất hằng năm thì phải đáp ứng điều kiện quy định tại Điều 46 của Luật này;
b) Đối với trường hợp chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp thì phải đáp ứng điều kiện quy định tại Điều 47 của Luật này”;
- Điều 21 Bộ luật Dân sự 2015 quy định người chưa thành niên như sau:
“1. Người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi.
2. Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi do người đại diện theo pháp luật của người đó xác lập, thực hiện.
3. Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi.
4. Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và giao dịch dân sự khác theo quy định của luật phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý.
- Điều 136 Bộ luật Dân sự 2015 quy định đại diện theo pháp luật của cá nhân như sau:
“1. Cha, mẹ đối với con chưa thành niên.
2. Người giám hộ đối với người được giám hộ. Người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là người đại diện theo pháp luật nếu được Tòa án chỉ định.
3. Người do Tòa án chỉ định trong trường hợp không xác định được người đại diện quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.
4. Người do Tòa án chỉ định đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự”.
Đối chiếu với quy định pháp luật, do ông đã được UBND cấp có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (Sổ đỏ) ghi nhận các quyền trong việc sử dụng đất trong đó có quyền thực hiện việc chuyển quyền sử dụng đất của mình cho người khác theo quy định tại. Chính vì vậy, theo quy định này thì ông hoàn toàn có các quyền tặng cho quyền sử dụng thửa đất cho người cháu của mình. Tuy nhiên, theo nội dung ông trình bày do người cháu của ông chưa đủ 18 tuổi nên cán bộ tại UBND xã đã từ chối thực hiện thủ tục chứng thực hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bác và người cháu. Theo các quy định của pháp luật thì việc tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông và người cháu được coi là một giao dịch dân sự. Do người cháu của ông chưa đủ 18 tuổi nên không được phép thực hiện các giao dịch liên quan đến bất động sản.
Do đó, căn cứ quy định tại Điều 21 Bộ luật Dân sự 2015 thì mọi giao dịch đều do người đại diện theo pháp luật của người cháu xác lập và thực hiện. Vì vậy, trong trường hợp của ông để thực hiện được việc tặng cho quyền sử dụng đất theo đúng các quy định của pháp luật thì người đại diện theo pháp luật của người cháu mà ông định tặng cho quyền sử dụng đất thể hiện đồng ý nhận tặng cho quyền sử dụng đất bằng văn bản cụ thể. Theo quy định tại điều 136 Bộ luật Dân sự thì người đại diện theo pháp luật của người cháu của ông được xác định là bố mẹ của cháu. Chính vì vậy, để thực hiện thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất cho người cháu thì giữa các bên cần đưa người đại diện của người cháu vào tham gia giao dịch tặng cho quyền sử dụng đất này để thể hiện ý chí về việc nhận tài sản tặng cho. Như vậy, với việc đưa bố mẹ của người cháu của ông vào tham gia giao dịch tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông và người cháu đã được thực hiện.
Đỗ Như Quỳnh