Ông bà nội tôi sinh được 12 người con. Ông đã mất từ lâu, bà thì mất cách đây 1 năm. Ông bà nội mất đi đều không để lại di chúc. Ông bà nội có để lại 1 căn nhà khá lớn cùng với diện tích đất là...
đất và đứng tên ông bà nội tôi). Kể từ khi ông bà mất, giữa 12 người con của ông bà đã nảy sinh nhiều mâu thuẫn, đến nay chỉ còn chú út ở đấy để lo việc thờ tự. Còn người chú thứ Năm luôn gây ra tranh chấp vì cho rằng mình có công xây dựng nhà khi xưa. Đến nay đa số cô chú đồng ý quyết định bán căn nhà và chia đều số tiền bán được. Người quyết định mua nhà lại là bác cả, vì muốn giữ lại nơi thờ cúng tổ tiên. Nhưng người chú thứ Mười lại cho rằng, không được quyền bán căn nhà. Vậy đề nghị cho biết ý kiến của chú thứ Mười nói trên có đúng hay không?
Trả lời:
- Khoản 1 Điều 168 Luật đất đai năm 2013 quy định về thời điểm được thực hiện các quyền của người sử dụng đất như sau: “Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất khi có Giấy chứng nhận. Trường hợp nhận thừa kế quyền sử dụng đất thì người sử dụng đất được thực hiện quyền khi có Giấy chứng nhận hoặc đủ điều kiện để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất”. Do đó, nếu thửa đất trên đó có nhà đã có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì đó là di sản thừa kế.
- Điều 612 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định di sản “Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác”.
- Điều 649 Bộ Luật Dân sự 2015 quy định thừa kế theo pháp luật như sau: “Thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định”.
- Khoản 1 Điều 650 Bộ Luật Dân sự 2015 quy định những trường hợp thừa kế theo pháp luật
“1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp sau đây:
a) Không có di chúc;
b) Di chúc không hợp pháp;
c) Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế;
d) Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản”.
- Điều 651 Bộ Luật Dân sự 2015 quy định người thừa kế theo pháp luật như sau:
1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.
3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.
- Khoản 2 Điều 660 Bộ Luật Dân sự 2015 quy định về phân chia di sản theo pháp luật như sau: “Những người thừa kế có quyền yêu cầu phân chia di sản bằng hiện vật; nếu không thể chia đều bằng hiện vật thì những người thừa kế có thể thỏa thuận về việc định giá hiện vật và thỏa thuận về người nhận hiện vật; nếu không thỏa thuận được thì hiện vật được bán để chia”.
Theo quy định của pháp luật, ông bà nội bạn mất đi nhưng không để lại di chúc mà căn nhà và mảnh đất có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông bà nội bạn thì thì đó là di sản thừa kế. Di sản thừa kế của ông bà nội bạn được chia theo quy định của pháp luật, 12 người con thuộc hàng thừa kế thứ nhất và được hưởng phần di sản bằng nhau. Đồng thời pháp luật cũng quy định những người thừa kế có quyền yêu cầu phân chia di sản bằng hiện vật; nếu không thể chia đều bằng hiện vật thì những người thừa kế có thể thỏa thuận về việc định giá hiện vật và thỏa thuận về người nhận hiện vật; nếu không thỏa thuận được thì hiện vật được bán để chia.
Như Quỳnh
Đỗ Như Quỳnh