Chồng tôi mất năm 1998 nhưng tôi không làm giấy chứng tử cho chồng. Từ khi chồng mất đến nay tôi vẫn sống độc thân. Nay tôi có bán ngôi nhà nhưng khi làm thủ tục thì cơ quan công chứng yêu cầu tôi...
Chồng tôi mất năm 1998 nhưng tôi không làm giấy chứng tử cho chồng. Từ khi chồng mất đến nay tôi vẫn sống độc thân. Nay tôi có bán ngôi nhà nhưng khi làm thủ tục thì cơ quan công chứng yêu cầu tôi phải có xác nhận tình trạng hôn nhân. Xin hỏi pháp luật có quy định việc cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho công dân để làm thủ tục mua bán nhà không? Tôi phải làm những thủ tục gì để có giấy này?
Trả lời:
Theo quy định tại khoản 2 Điều 23 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch về Giá trị sử dụng của Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân thì “Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân được sử dụng để kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam, kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài hoặc sử dụng vào mục đích khác”.
Quy định này được hiểu rằng, Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân dùng để chứng minh về tình trạng hôn nhân của mỗi cá nhân; ngoài việc sử dụng vào mục đích kết hôn, Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân còn được sử dụng vào các mục đích khác khi người đó có yêu cầu chứng minh tình trạng hôn nhân của mình trong thời điểm hiện tại.
Như vậy, để làm thủ tục chuyển nhượng/mua bán nhà đất, bà cần phải cung cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân với nội dung: Chồng chết năm 1998, từ đó đến nay chưa đăng ký kết hôn với ai. Vì khi chồng chết, bà chưa làm thủ tục đăng ký khai tử nên hiện nay, bà phải đăng ký khai tử cho chồng, sau đó cung cấp Giấy chứng tử tại cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho mình.
Trình tự, thủ tục đăng ký khai tử, cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân được thực hiện theo quy định của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch. Cụ thể như sau:
1. Đăng ký khai tử
- Thẩm quyền đăng ký khai tử: Theo quy định tại Điều 32 Luật Hộ tịch thì “Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú cuối cùng của người chết thực hiện việc đăng ký khai tử. Trường hợp không xác định được nơi cư trú cuối cùng của người chết thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó chết hoặc nơi phát hiện thi thể người chết thực hiện việc đăng ký khai tử.”
- Thủ tục đăng ký khai tử được quy định tại Điều 34 Luật Hộ tịch, cụ thể như sau:
+ Người có trách nhiệm đi đăng ký khai tử nộp tờ khai theo mẫu quy định và Giấy báo tử hoặc giấy tờ khác thay giấy báo tử cho cơ quan đăng ký hộ tịch.
+ Ngay sau khi nhận giấy tờ theo quy định trên, nếu thấy việc khai tử đúng thì công chức tư pháp - hộ tịch ghi nội dung khai tử vào Sổ hộ tịch, cùng người đi khai tử ký tên vào Sổ hộ tịch và báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cấp trích lục cho người đi khai tử.
Công chức tư pháp - hộ tịch khóa thông tin hộ tịch của người chết trong Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử.
2. Cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân
Sau khi được cấp trích lục khai tử, bà làm thủ tục cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.
- Thẩm quyền cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân được quy định tại Điều 21 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP, theo đó “Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi thường trú của công dân Việt Nam thực hiện việc cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.Trường hợp công dân Việt Nam không có nơi thường trú, nhưng có đăng ký tạm trú theo quy định của pháp luật về cư trú thì Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi người đó đăng ký tạm trú cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.”
- Thủ tục cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân được quy định tại Điều 22 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP như sau:
“1. Người yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân nộp Tờ khai theo mẫu quy định. Trường hợp yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân nhằm mục đích kết hôn thì người yêu cầu phải đáp ứng đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.
2. Trường hợp người yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân đã có vợ hoặc chồng nhưng đã ly hôn hoặc người vợ hoặc chồng đã chết thì phải xuất trình hoặc nộp giấy tờ hợp lệ để chứng minh; nếu thuộc trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 37 của Nghị định này thì nộp bản sao trích lục hộ tịch tương ứng.
3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, công chức tư pháp - hộ tịch kiểm tra, xác minh tình trạng hôn nhân của người có yêu cầu. Nếu người yêu cầu có đủ điều kiện, việc cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân là phù hợp quy định pháp luật thì công chức tư pháp - hộ tịch trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân ký cấp 01 bản Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho người có yêu cầu. Nội dung Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân phải ghi đúng tình trạng hôn nhân của người có yêu cầu và mục đích sử dụng Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.
4. Trường hợp người yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân đã từng đăng ký thường trú tại nhiều nơi khác nhau, người đó có trách nhiệm chứng minh về tình trạng hôn nhân của mình. Trường hợp người đó không chứng minh được thì công chức tư pháp - hộ tịch báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có văn bản đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đã từng đăng ký thường trú tiến hành kiểm tra, xác minh về tình trạng hôn nhân của người đó.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị, Ủy ban nhân dân cấp xã được yêu cầu tiến hành kiểm tra, xác minh và trả lời bằng văn bản cho Ủy ban nhân dân cấp xã yêu cầu về tình trạng hôn nhân của người đó trong thời gian thường trú tại địa phương.
5. Ngay trong ngày nhận được văn bản trả lời, nếu thấy đủ cơ sở, Ủy ban nhân dân cấp xã cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho người yêu cầu theo quy định tại Khoản 3 Điều này.”
Admin PBGDPL