Vợ chồng tôi cùng lập di chúc chung năm 2016, để lại cho con trai cả 1000 m2 đất nhưng sau đó bị đối xử bất hiếu. Tôi thấy con không còn xứng đáng với việc hưởng tài sản của mình. Đến nay, khi...
Trả lời:
- Điều 612 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định "Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác."
- Điều 624 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về di chúc như sau: “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết”.
- Điều 71 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng như sau:
“1. Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
2. Con có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, đặc biệt khi cha mẹ mất năng lực hành vi dân sự, ốm đau, già yếu, khuyết tật; trường hợp gia đình có nhiều con thì các con phải cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ”.
- Điều 609 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về quyền thừa kế như sau:
“Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.
Người thừa kế không là cá nhân có quyền hưởng di sản theo di chúc”.
- Điều 613 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về người thừa kế như sau: “Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trường hợp người thừa kế theo di chúc không là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế”.
- Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về người không được quyền hưởng di sản như sau:
“1. Những người sau đây không được quyền hưởng di sản:
a) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;
b) Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;
c) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;
d) Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.
2. Những người quy định tại khoản 1 Điều này vẫn được hưởng di sản, nếu người để lại di sản đã biết hành vi của những người đó, nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc””.
- Khoản 1 Điều 640 Bộ Luật Dân sự quy định: “Sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc: Người lập di chúc có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc đã lập vào bất cứ lúc nào”.
Trường hợp này, có thể xác định hai bác đã lập di chúc chung để lại di sản cho con cả. Thời điểm bác trai còn sống, người con cả đã có hành vi "Vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản" đây là căn cứ để người này không được quyền hưởng di sản thừa kế của bác trai. Tuy nhiên, do bác trai không thay đổi di chúc nên người này vẫn được hưởng phần di sản thừa kế theo quy định tại khoản 2 điều 621 Bộ luật dân sự năm 2015. Như vậy, với phần di sản của bác trai, người con cả vẫn được hưởng theo nội dung di chúc.
Đối với phần tài sản của bác: Vợ chồng lập di chúc chung vào năm 2016 nên chịu sự điều chỉnh của Điều 640 Bộ luật Dân sự năm 2015. Theo đó, bác gái có quyền sửa đổi, truất quyền thừa kế của người con cả đối với phần tài sản của bác trong khối tài sản chung của hai vợ chồng.
Có thể diễn giải cụ thể như sau: Phần tài sản 1.000 m2 của hai bác có 500 m2 thuộc về bác trai đã được thừa kế cho người con trai cả, người này được hưởng. Phần 500 m2 còn lại thuộc về bác và bác có quyền lập di chúc mới thay thế một phần di chúc cũ liên quan phần tài sản để lại cho người con khác.
Như Quỳnh
Đỗ Như Quỳnh