Tôi cho một người hàng xóm vay tiền đầu tư mua đất ở Phú Quốc, có giấy tờ viết tay, trong đó ghi rõ hạn trả trong vòng 1 năm. Vì là chỗ thân quen, nên không ghi lãi suất thế nào, mà hai bên chỉ...
Tôi cho một người hàng xóm vay tiền đầu tư mua đất ở Phú Quốc, có giấy tờ viết tay, trong đó ghi rõ hạn trả trong vòng 1 năm. Vì là chỗ thân quen, nên không ghi lãi suất thế nào, mà hai bên chỉ thỏa thuận bên ngoài sau khi người vay bán lại đất, có lãi sẽ đưa tôi một phần nào đó.
Nay đã quá hạn, lấy lý do thị trường đóng băng, chưa bán được đất, người này không trả tiền gốc cho tôi, chứ chưa nói gì đến lãi.
Xin hỏi, giấy tờ viết tay, không có cồng chứng hay chứng thực có được coi là hợp đồng cho vay hợp lệ hay không? Ngoài tiền vay, nếu không ghi lãi suất thì người vay tiền có bắt buộc trả tiền lãi cho tôi hay không?
Trả lời
Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Theo Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015, “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định”.
Do đó, thỏa thuận về việc cho vay, ghi nhận bằng giấy viết tay giữa bạn và người hàng xóm là hợp đồng vay tài sản, trong trường hợp cụ thể này là hợp đồng cho vay tiền. Pháp luật hiện tại không bắt buộc hợp đồng cho vay tài sản phải công chứng, chứng thực. Các bên trong hợp đồng có quyền thỏa thuận về nội dung trong hợp đồng, bao gồm các nội dung được quy định tại khoản 2 Điều 398 của Bộ luật này. Đó là:
“a) Đối tượng của hợp đồng;
b) Số lượng, chất lượng;
c) Giá, phương thức thanh toán;
d) Thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng;
đ) Quyền, nghĩa vụ của các bên;
e) Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng;
g) Phương thức giải quyết tranh chấp”.
Lãi suất được quy định tại Điều 468 của Bộ luật này như sau:
“1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.
Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.
Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.
2. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ”.
Có nghĩa là, hai bên có quyền thỏa thuận về việc cho vay tiền có lãi suất hoặc không. Nếu có lãi suất, mức lãi suất thỏa thuận phải đảm bảo giới hạn tối đa như trên.
Trường hợp hai bên thỏa thuận cho vay tiền không có lãi suất thì khi đến hạn, người vay trả nợ gốc không bao gồm tiền lãi. Trách nhiệm trả tiền lãi chỉ phát sinh khi người vay vi phạm nghĩa vụ trả nợ quá hạn. Bởi vì, Điều 466 của Bộ luật này quy định:
“1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
2. Trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.
3. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
4. Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
5. Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau:
a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này;
b) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”.
Tóm lại, các bạn thỏa thuận cho vay tiền không có lãi. Theo thông tin của bạn thì thời hạn trả nợ đã hết, nhưng bên vay không trả nợ, với tư cách người cho vay, bạn có quyền yêu cầu họ trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác. Đó là, bằng 50% mức lãi suất giới hạn 20%/năm trên tổng số tiền vay chưa trả cho bạn.
Ngọc Đức
Admin PBGDPL