Năm 2017 tôi cho vợ chồng người bạn vay 35 triệu đồng, không lấy lãi, thời hạn một năm nhưng đến giờ họ vẫn chưa trả. Nay tôi mua một chiếc xe máy tại cửa hàng do anh trai của chồng người bạn...
Năm 2017 tôi cho vợ chồng người bạn vay 35 triệu đồng, không lấy lãi, thời hạn một năm nhưng đến giờ họ vẫn chưa trả.
Nay tôi mua một chiếc xe máy tại cửa hàng do anh trai của chồng người bạn đã vay tiền tôi nêu ở trên làm chủ. Tôi muốn chuyển số tiền nợ của vợ chồng người bạn cho chủ cửa hàng xe máy thì phải làm như thế nào?
Trả lời
Quan hệ cho vay tiền giữa bạn và vợ chồng người bạn dựa trên hợp đồng vay tài sản, trong đó xác định quyền và nghĩa vụ của hai bên.
Hợp đồng vay tài sản, theo Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015, “là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định”.
Một trong những nghĩa vụ quan trọng nhất của người vay là trả nợ được quy định tại Điều 466 của Bộ luật này như sau:
“1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả thuận khác.
2. Trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.
3. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thoả thuận khác.
4. Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc luật có quy định khác.
5. Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau:
a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này;
b) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thoả thuận khác”.
Thời hạn cho vay mà bạn và vợ chồng người bạn thỏa thuận đã hết, có nghĩa là, họ có trách nhiệm trả nợ cho bạn. Đồng nghĩa, bạn có quyền quyền yêu cầu họ thực hiện nghĩa vụ đầy đủ, đúng hạn.
Pháp luật dân sự cũng quy định về việc chuyển giao quyền yêu cầu như trường hợp bạn muốn chuyển yêu cầu đòi nợ sang chủ cửa hàng xe máy. Cụ thể, Điều 365 của Bộ luật này quy định:
“1. Bên có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ có thể chuyển giao quyền yêu cầu đó cho người thế quyền theo thoả thuận, trừ trường hợp sau đây:
a) Quyền yêu cầu cấp dưỡng, yêu cầu bồi thường thiệt hại do xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín;
b) Bên có quyền và bên có nghĩa vụ có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định về việc không được chuyển giao quyền yêu cầu.
2. Khi bên có quyền yêu cầu chuyển giao quyền yêu cầu cho người thế quyền thì người thế quyền trở thành bên có quyền yêu cầu. Việc chuyển giao quyền yêu cầu không cần có sự đồng ý của bên có nghĩa vụ.
Người chuyển giao quyền yêu cầu phải thông báo bằng văn bản cho bên có nghĩa vụ biết về việc chuyển giao quyền yêu cầu, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Trường hợp bên chuyển giao quyền yêu cầu không thông báo về việc chuyển giao quyền mà phát sinh chi phí cho bên có nghĩa vụ thì bên chuyển giao quyền yêu cầu phải thanh toán chi phí này”.
Căn cứ quy định nêu trên, muốn chuyển yêu cầu đòi nợ, bạn cần sự đồng ý của chủ cửa hàng xe máy, cung cấp thông tin cần thiết, bằng chứng chứng minh về việc cho vợ chồng người bạn vay tiền… Đồng thời, bạn có nghĩa vụ thông báo cho họ biết về việc chuyển khoản nợ sang anh trai người chồng.
Lưu ý, khi được chủ cửa hàng xe máy đồng ý, bạn chỉ cần thông báo cho người vay mà không cần có sự đồng ý của họ về việc chuyển giao quyền yêu cầu trả số tiền nợ 35 triệu đồng cho chính anh trai của người chồng.
Nếu không thông báo mà phát sinh chi phí cho người vay thì bạn phải thanh toán chi phí này. Thêm nữa, người vay có thể từ chối trả nợ cho chủ cửa hàng xe máy, là người được bạn chuyển giao quyền. Bởi vì, khoản 1 Điều 369 của Bộ luật này quy định: “Trường hợp bên có nghĩa vụ không được thông báo về việc chuyển giao quyền yêu cầu và người thế quyền không chứng minh về tính xác thực của việc chuyển giao quyền yêu cầu thì bên có nghĩa vụ có quyền từ chối việc thực hiện nghĩa vụ đối với người thế quyền”.
Theo khoản 2 của Điều này, “trường hợp bên có nghĩa vụ do không được thông báo về việc chuyển giao quyền yêu cầu mà đã thực hiện nghĩa vụ đối với người chuyển giao quyền yêu cầu thì người thế quyền không được yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ đối với mình”.
Admin Admin Admin