Chế tài xử phạt đối với luật sư có hành vi xúi giục người khác khiếu nại trái quy định pháp luật
Ở xã tôi hiện nay có tình trạng một nhóm người thường kéo lên trụ sở UBND xã để khiếu nại, đòi hỏi quyền lợi liên quan đến việc thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn xã. Cán bộ công chức của UBND xã tôi đã giải thích rất rõ về quy định của phát luật đối với việc thu hồi đất nông nghiệp nhưng họ không chấp nhận. Qua trao đổi tôi được biết họ được một luật sư trẻ tên là M của Văn phòng luật sư Z có trụ sở ở trên địa bàn xã tôi tư vấn về chính sách, pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp trái quy định của pháp luật và anh M này đã xúi giục mọi người khiếu nại UBND xã. Tôi xin hỏi hành vi xúi giục người khác đi khiếu nại trái pháp luật của luật sư thì phải chị trách nhiệm pháp lý như thế nào?
Trả lời:
Tại quy định khoản 6 Điều 6 Luật khiếu nại năm 2011 thì hành vi xúi giục người khác tập trung đông người khiếu nại gây mất an ninh trật tự là hành vi bị Luật nghiêm cấm, cụ thể:
“Điều 6. Các hành vi bị nghiêm cấm
6. Kích động, xúi giục, cưỡng ép, dụ dỗ, mua chuộc, lôi kéo người khác tập trung đông người khiếu nại, gây rối an ninh trật tự công cộng.”
Đối với việc bạn hỏi, vị luật sư tên M của Văn phòng luật sư Z đã vi phạm quy định của Luật khiếu nại khi có hành vi xúi giục mọi người tụ tập đông người khiếu nại tại UBND xã về việc thực hiện chính sách, pháp luật trong thu hồi đất nông nghiệp. Ngoài ra, hành vi của vị luật sư này cũng đã vi phạm quy định cấm tại điểm b Khoản 1 Điều 9 Luật Luật sư năm 2006 (sửa đổi năm 2012), theo đó:
“Điều 9. Các hành vi bị nghiêm cấm
1. Nghiêm cấm luật sư thực hiện các hành vi sau đây:
b) Cố ý cung cấp hoặc hướng dẫn khách hàng cung cấp tài liệu, vật chứng giả, sai sự thật; xúi giục người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, đương sự khai sai sự thật hoặc xúi giục khách hàng khiếu nại, tố cáo, khiếu kiện trái pháp luật;”
Quy tắc cơ bản về những việc luật sư không được làm trong quan hệ với khách hàng tại điểm 14.1 Quy tắc số 14 của Quy tắc Đạo đức và Ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam ban hành kèm theo Quyết định số 68/QĐ-HĐLSTQ ngày 20/7/2011 của Hội đồng luật sư toàn quốc quy định như sau:
“Quy tắc 14. Những việc luật sư không được làm trong quan hệ với khách hàng
14.1. Chủ động xúi giục, kích động khách hàng kiện tụng hoặc thực hiện những hành vi khác trái pháp luật;”
Như vậy, hành vi của vị luật sư tên M có thể bị áp dụng xử lý hành chính là tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề luật sư, giấy đăng ký hành nghề luật sư từ 06 đến 12 tháng theo quy định tại điểm d Khoản 6 Điều 6 Nghị định 110/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã, cụ thể:
“Điều 6. Hành vi vi phạm quy định về hoạt động hành nghề luật sư
6. Tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề luật sư, giấy đăng ký hành nghề luật sư hoặc giấy phép hành nghề luật sư tại Việt Nam từ 06 tháng đến 12 tháng đối với một trong các hành vi sau:
d) Xúi giục khách hàng khai sai sự thật hoặc xúi giục khách hàng khiếu nại, tố cáo trái pháp luật;”
Ngoài ra, trường hợp xúi giục, kích động làm ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự khu vực cơ quan hành chính thì vị luật sư này có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự.
- Về việc xử phạt hành chính : theo quy định điểm b Khoản 3 Điều 5 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ về quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình quy định như sau:
“Điều 5. Vi phạm quy định về trật tự công cộng
3. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
b) Lôi kéo hoặc kích động người khác gây rối, làm mất trật tự công cộng;”
- Về việc xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự: Vị luật sư này có thể truy cứu về Tội gây rối trật tự công cộng theo quy định tại điểm d Khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự năm 2015, cụ thể:
“Điều 318. Tội gây rối trật tự công cộng
1. Người nào gây rối trật tự công cộng gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Dùng vũ khí, hung khí hoặc có hành vi phá phách;
c) Gây cản trở giao thông nghiêm trọng hoặc gây đình trệ hoạt động công cộng;
d) Xúi giục người khác gây rối;
đ) Hành hung người can thiệp bảo vệ trật tự công cộng;
e) Tái phạm nguy hiểm.”
Admin PBGDPL