Vợ chồng tôi sinh con khi chưa đăng ký kết hôn. Vì chưa có giấy đăng kí kết hôn nên vợ tôi khai sinh cho con mang họ mẹ và không có tên cha. Hiện nay, cháu được 5 tuổi. Vừa qua, chúng tôi đã làm...
Vợ chồng tôi sinh con khi chưa đăng ký kết hôn. Vì chưa có giấy đăng kí kết hôn nên vợ tôi khai sinh cho con mang họ mẹ và không có tên cha. Hiện nay, cháu được 5 tuổi. Vừa qua, chúng tôi đã làm thủ tục đăng ký kết hôn và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn. Nay tôi muốn làm thủ tục nhận con thì tôi có phải làm thủ tục xét nghiệm ADN hay không? Tôi có được đổi họ cho con từ họ mẹ sang họ cha không? Thủ tục như thế nào?
Trả lời:
Thủ tục đăng ký nhận cha, mẹ, con được quy định tại Điều 25 Luật Hộ tịch, theo đó: “Người yêu cầu đăng ký nhận cha, mẹ, con nộp tờ khai theo mẫu quy định và chứng cứ chứng minh quan hệ cha con hoặc mẹ con cho cơ quan đăng ký hộ tịch. Khi đăng ký nhận cha, mẹ, con các bên phải có mặt…”.
Theo quy định tại điều 11 Thông tư 15/2015 TT-BTP hướng dẫn luật Hộ tịch quy định về chứng cứ chứng minh quan hệ cha mẹ con bao gồm:
“Chứng cứ để chứng minh quan hệ cha, mẹ, con theo quy định tại khoản 1 Điều 25 và khoản 1 Điều 44 của Luật hộ tịch gồm một trong các giấy tờ, tài liệu sau đây:
1. Văn bản của cơ quan y tế, cơ quan giám định hoặc cơ quan khác có thẩm quyền ở trong nước hoặc nước ngoài xác nhận quan hệ cha con, quan hệ mẹ con.
2. Trường hợp không có văn bản quy định tại khoản 1 Điều này thì phải có thư từ, phim ảnh, băng, đĩa, đồ dùng, vật dụng khác chứng minh mối quan hệ cha con, quan hệ mẹ con và văn bản cam đoan của cha, mẹ về việc trẻ em là con chung của hai người, có ít nhất hai người thân thích của cha, mẹ làm chứng.”
Như vậy, theo quy định trên thì khi làm thủ tục đăng ký nhận nhận con, không nhất thiết anh phải làm giám định ADN để xác định cha con. Thay vào đó, anh có thể cung cấp các chứng cứ khác như: thư từ, tin nhắn, hoặc vật dụng khác chứng minh được mối quan hệ cha con, văn bản cam đoan của cha mẹ về việc trẻ em là con chung của hai người và phải có ít nhất hai người thân thích của cha và mẹ đứa bé làm chứng.
Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 2 điều 13 Thông tư 15/2015 TT-BTP hướng dẫn đăng ký nhận cha, mẹ, con, bổ sung hộ tịch trong một số trường hợp đặc biệt như sau: “2. Trường hợp con do người vợ sinh ra trước thời điểm đăng ký kết hôn, đã được đăng ký khai sinh không có thông tin về người cha, vợ chồng có văn bản thừa nhận là con chung thì không phải làm thủ tục đăng ký nhận cha, mẹ, con mà làm thủ tục bổ sung hộ tịch để ghi bổ sung thông tin về người cha trong Sổ đăng ký khai sinh và Giấy khai sinh của người con.”
Như vậy, trong trường hợp của anh vì vợ chồng anh đã đăng ký kết hôn nên theo hướng dẫn trên thì anh chị chỉ cần làm văn bản thừa nhận con mà không phải làm thủ tục đăng ký cha nhận con. Theo đó, anh chỉ cần làm thủ tục bổ sung hộ tịch để ghi thông tin về người cha trong Sổ đăng ký khai sinh và Giấy khai sinh của người con.
Thủ tục bổ sung hộ tịch được quy định tại Điều 29 Luật Hộ tịch, cụ thể như sau:
“Điều 29. Thủ tục bổ sung hộ tịch
1. Người yêu cầu bổ sung hộ tịch nộp tờ khai theo mẫu quy định và giấy tờ liên quan cho cơ quan đăng ký hộ tịch.
2. Ngay sau khi nhận đủ giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều này, nếu thấy yêu cầu bổ sung hộ tịch là đúng, công chức tư pháp - hộ tịch ghi nội dung bổ sung vào mục tương ứng trong Sổ hộ tịch, cùng người yêu cầu ký tên vào Sổ hộ tịch và báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cấp trích lục cho người yêu cầu.
Trường hợp bổ sung hộ tịch vào Giấy khai sinh, Giấy chứng nhận kết hôn thì công chức tư pháp - hộ tịch ghi nội dung bổ sung vào mục tương ứng và đóng dấu vào nội dung bổ sung.”
Về việc đổi họ cho con từ họ mẹ sang họ cha: Theo quy định tại Điều 27 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về quyền thay đổi họ của cá nhân như sau:
“1. Cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận việc thay đổi họ trong trường hợp sau đây:
a) Thay đổi họ cho con đẻ từ họ của cha đẻ sang họ của mẹ đẻ hoặc ngược lại;
b) Thay đổi họ cho con nuôi từ họ của cha đẻ hoặc mẹ đẻ sang họ của cha nuôi hoặc họ của mẹ nuôi theo yêu cầu của cha nuôi, mẹ nuôi;
c) Khi người con nuôi thôi làm con nuôi và người này hoặc cha đẻ, mẹ đẻ yêu cầu lấy lại họ cho người đó theo họ của cha đẻ hoặc mẹ đẻ;
d) Thay đổi họ cho con theo yêu cầu của cha đẻ, mẹ đẻ hoặc của con khi xác định cha, mẹ cho con;
đ) Thay đổi họ của người bị lưu lạc đã tìm ra nguồn gốc huyết thống của mình;
e) Thay đổi họ theo họ của vợ, họ của chồng trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài để phù hợp với pháp luật của nước mà vợ, chồng người nước ngoài là công dân hoặc lấy lại họ trước khi thay đổi;
g) Thay đổi họ của con khi cha, mẹ thay đổi họ;
h) Trường hợp khác do pháp luật về hộ tịch quy định.
2. Việc thay đổi họ cho người từ đủ chín tuổi trở lên phải có sự đồng ý của người đó.
3. Việc thay đổi họ của cá nhân không làm thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự được xác lập theo họ cũ.”
Như vậy, theo quy định trên thì vợ chồng anh hoàn toàn có thể làm thủ tục thay đổi họ cho con. Anh chị có thể đến UBND cấp xã nơi đã đăng ký hộ tịch trước đây hoặc nơi cư trú của cá nhân để làm thủ tục thay đổi họ cho con. Thủ tục đăng ký thay đổi họ cho con được quy định tại Điều 28 Luật Hộ tịch, cụ thể như sau:
“Điều 28. Thủ tục đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch
1. Người yêu cầu đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch nộp tờ khai theo mẫu quy định và giấy tờ liên quan cho cơ quan đăng ký hộ tịch.
2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều này, nếu thấy việc thay đổi, cải chính hộ tịch là có cơ sở, phù hợp với quy định của pháp luật dân sự và pháp luật có liên quan, công chức tư pháp - hộ tịch ghi vào Sổ hộ tịch, cùng người yêu cầu đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch ký vào Sổ hộ tịch và báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cấp trích lục cho người yêu cầu.
Trường hợp thay đổi, cải chính hộ tịch liên quan đến Giấy khai sinh, Giấy chứng nhận kết hôn thì công chức tư pháp - hộ tịch ghi nội dung thay đổi, cải chính hộ tịch vào Giấy khai sinh, Giấy chứng nhận kết hôn.
Trường hợp cần phải xác minh thì thời hạn được kéo dài thêm không quá 03 ngày làm việc.
3. Trường hợp đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch không phải tại nơi đăng ký hộ tịch trước đây thì Ủy ban nhân dân cấp xã phải thông báo bằng văn bản kèm theo bản sao trích lục hộ tịch đến Ủy ban nhân dân nơi đăng ký hộ tịch trước đây để ghi vào Sổ hộ tịch.”
Admin PBGDPL