Tôi (30 tuổi) đi dự đám cưới bạn thân và có tham gia đánh sóc đĩa tại đám cưới. Tôi không bị bắt quả tang, nhưng bị những người khác (bị bắt quả tang) khai ra. Xin hỏi tôi có bị khởi tố tội đánh...
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 143 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì chỉ được khởi tố vụ án khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm. Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những căn cứ:
“1. Tố giác của cá nhân;
2. Tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân;
3. Tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng;
4. Kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước;
5. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm;
6. Người phạm tội tự thú.”
Như vậy, việc bạn tham gia đánh bạc, mặc dù không bị bắt quả tang nhưng bị những người bị bắt khác khai ra thì bạn vẫn có thể bị triệu tập theo quy định của pháp luật để làm rõ về hành vi đánh bạc của bạn. Qua hoạt động điều tra, nếu có đủ các căn cứ xác định hành vi đánh bạc trái phép của bạn đủ yếu tố cấu thành tội đánh bạc được quy định tại Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì hành vi đánh bạc của bạn sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự và bị áp dụng hình phạt về tội đánh bạc, cụ thể như sau:
“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:
a) Có tính chất chuyên nghiệp;
b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 50.000.000 đồng trở lên;
c) Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;
d) Tái phạm nguy hiểm.
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.”
Trường hợp hành vi đánh bạc của bạn không đủ yếu tố cấu thành tội phạm mà chỉ là hành vi vi phạm hành chính thì hành vi đó sẽ bị xử phạt hành chính theo quy định tại Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng, chống bạo lực gia đình, cụ thể: Tại điểm a, khoản 2, Điều 28, Chương II, Nghị định số 144/2021/NĐ-CP quy định về xử phạt hành vi đánh bạc trái phép như sau:
“2. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Đánh bạc trái phép bằng một trong các hình thức như xóc đĩa, tá lả, tổ tôm, tú lơ khơ, tam cúc, 3 cây, tứ sắc, đỏ đen, cờ thế, binh ấn độ 6 lá, binh xập xám 13 lá, tiến lên 13 lá, đá gà, tài xỉu hoặc các hình thức khác với mục đích được, thua bằng tiền, tài sản, hiện vật;”
Theo quy định tại khoản 2, Điều 4 của Nghị định này quy định về mức phạt tiền tối đa, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính, thì: “Mức phạt tiền quy định tại Chương II Nghị định này là mức phạt được áp dụng đối với hành vi vi phạm hành chính của cá nhân. Đối với tổ chức có cùng hành vi vi phạm, mức phạt tiền gấp 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.”
Nguyễn Tuân
Nguyễn Sỹ Tuấn