Gia đình tôi thuộc diện hộ nghèo, đông con, nhà đang ở nằm trong phố cổ rất chật chội. Sắp tới đây con trai tôi lập gia đình, nhu cầu về nhà ở càng bức xúc hơn. Tôi nghe nói Nhà nước có chính sách...
Trả lời
Theo khoản 7 Điều 3 Luật Nhà ở năm 2014, “Nhà ở xã hội là nhà ở có sự hỗ trợ của Nhà nước cho các đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở theo quy định của Luật này”.
Các hình thức thực hiện chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội, tùy theo đối tượng, bao gồm cho thuê, cho thuê mua, bán nhà ở xã hội, xây dựng mới hoặc cải tạo, sửa chữa nhà để ở, hỗ trợ giao đất ở có miễn, giảm tiền sử dụng đất, hỗ trợ cho vay vốn ưu đãi của Nhà nước thông qua Ngân hàng chính sách xã hội, tổ chức tín dụng do Nhà nước chỉ định…
Điều 49 của Luật này quy định đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội như sau:
“1. Người có công với cách mạng theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng;
2. Hộ gia đình nghèo và cận nghèo tại khu vực nông thôn;
3. Hộ gia đình tại khu vực nông thôn thuộc vùng thường xuyên bị ảnh hưởng bởi thiên tai, biến đổi khí hậu;
4. Người thu nhập thấp, hộ nghèo, cận nghèo tại khu vực đô thị;
5. Người lao động đang làm việc tại các doanh nghiệp trong và ngoài khu công nghiệp;
6. Sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân trong cơ quan, đơn vị thuộc công an nhân dân và quân đội nhân dân;
7. Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức;
8. Các đối tượng đã trả lại nhà ở công vụ theo quy định tại khoản 5 Điều 81 của Luật này;
9. Học sinh, sinh viên các học viện, trường đại học, cao đẳng, dạy nghề; học sinh trường dân tộc nội trú công lập được sử dụng nhà ở trong thời gian học tập;
10. Hộ gia đình, cá nhân thuộc diện bị thu hồi đất và phải giải tỏa, phá dỡ nhà ở theo quy định của pháp luật mà chưa được Nhà nước bồi thường bằng nhà ở, đất ở”.
Các đối tượng quy định tại các khoản 1, 4, 5, 6, 7, 8 và 10 Điều 49 nêu trên được hỗ trợ giải quyết cho thuê, cho thuê mua, bán nhà ở xã hội; đối tượng quy định tại khoản 9 thì chỉ được thuê nhà ở xã hội nếu đáp ứng điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 51 của Luật này thì được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội:
“a) Chưa có nhà ở thuộc sở hữu của mình, chưa được mua, thuê hoặc thuê mua nhà ở xã hội, chưa được hưởng chính sách hỗ trợ nhà ở, đất ở dưới mọi hình thức tại nơi sinh sống, học tập hoặc có nhà ở thuộc sở hữu của mình nhưng diện tích nhà ở bình quân đầu người trong hộ gia đình thấp hơn mức diện tích nhà ở tối thiểu do Chính phủ quy định theo từng thời kỳ và từng khu vực;
b) Phải có đăng ký thường trú tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có nhà ở xã hội; trường hợp không có đăng ký thường trú thì phải có đăng ký tạm trú từ một năm trở lên tại tỉnh, thành phố này, trừ trường hợp quy định tại khoản 9 Điều 49 của Luật này;
c) Đối với đối tượng quy định tại các khoản 4, 5, 6 và 7 Điều 49 của Luật này thì phải thuộc diện không phải nộp thuế thu nhập thường xuyên theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập cá nhân; trường hợp là hộ nghèo, cận nghèo thì phải thuộc diện nghèo, cận nghèo theo quy định của Thủ tướng Chính phủ. Đối với đối tượng quy định tại các khoản 1, 8, 9 và 10 Điều 49 của Luật này thì không yêu cầu phải đáp ứng điều kiện về thu nhập theo quy định tại điểm này”.
Nếu đáp ứng các điều kiện về nhà ở, cư trú, thu nhập như trên, gia đình bạn có thể được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội, bao gồm thuê nhà ở xã hội để ở. Thời hạn của hợp đồng thuê nhà ở xã hội tối thiểu là 05 năm; thời hạn thanh toán tiền thuê mua nhà ở xã hội tối thiểu là 05 năm, kể từ ngày ký hợp đồng thuê mua nhà ở.
Như chúng tôi đã dẫn chiếu ở trên, Nhà ở xã hội là nhà ở có sự hỗ trợ của Nhà nước cho các đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở. Cũng chính vì vậy, khoản 3 Điều 62 của Luật này quy định: “Bên thuê, thuê mua nhà ở xã hội không được bán, cho thuê lại, cho mượn nhà ở trong thời gian thuê, thuê mua; nếu bên thuê, thuê mua không còn nhu cầu thuê, thuê mua nhà ở thì chấm dứt hợp đồng và phải trả lại nhà ở này”.
Mọi trường hợp cho thuê nhà ở xã hội không đúng quy định của Luật này thì hợp đồng cho thuê đó không có giá trị pháp lý và bên thuê phải bàn giao lại nhà ở cho đơn vị quản lý nhà ở xã hội; trường hợp không bàn giao lại nhà ở thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi có nhà ở tổ chức cưỡng chế để thu hồi lại nhà ở đó. Việc xử lý tiền thuê, tiền mua nhà ở được thực hiện theo quy định của pháp luật dân sự.
Tóm lại, đáp ứng điều kiện và được thuê nhà ở xã hội, gia đình bạn phải sử dụng đúng mục đích phục vụ nhu cầu nhà ở của chính gia đình mình, không được cho người khác thuê lại hay cho mượn. Nếu không còn nhu cầu, gia đình bạn có nghĩa vụ trả lại cho Nhà nước.
Hùng Phi
Vũ Thị Thanh Tú