Tôi có hộ khẩu thường trú ở Nghệ An, còn bạn trai tôi ở Hà Nội. Tôi và bạn trai cùng làm việc cho một Công ty liên doanh với nước ngoài ở Hà Nội. Chúng tôi có quan hệ chung sống như vợ chồng...
Tôi có hộ khẩu thường trú ở Nghệ An, còn bạn trai tôi ở Hà Nội. Tôi và bạn trai cùng làm việc cho một Công ty liên doanh với nước ngoài ở Hà Nội. Chúng tôi có quan hệ chung sống như vợ chồng nhưng chưa đăng ký kết hôn. Vừa qua, tôi mới sinh con và muốn đăng ký khai sinh cho cháu, đồng thời chúng tôi muốn làm thủ tục cha nhận con để trong Giấy khai sinh của cháu có tên cả cha, lẫn mẹ. Thế nhưng UBND phường nơi bạn trai tôi thường trú lại yêu cầu tôi phải có giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để xác định tình trạng hôn nhân của tôi trong thời gian trước khi về cư trú tại Hà Nội. Xin hỏi UBND phường yêu cầu như vậy có đúng quy định pháp luật hay không?
Trả lời:
Theo quy định tại Khoản 3 Điều 15 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch thì: “3. Nếu vào thời điểm đăng ký khai sinh người cha yêu cầu làm thủ tục nhận con theo quy định tại Khoản 1 Điều 25 của Luật Hộ tịch thì Ủy ban nhân dân kết hợp giải quyết việc nhận con và đăng ký khai sinh; nội dung đăng ký khai sinh được xác định theo quy định tại Khoản 1 Điều 4 của Nghị định này.”
Khoản 1 Điều 25 Luật Hộ tịch quy định: “1. Người yêu cầu đăng ký nhận cha, mẹ, con nộp tờ khai theo mẫu quy định và chứng cứ chứng minh quan hệ cha con hoặc mẹ con cho cơ quan đăng ký hộ tịch. Khi đăng ký nhận cha, mẹ, con các bên phải có mặt.”
Tại Điều 12 Thông tư số 15/2015/TT-BTP ngày 16/11/2015 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật hộ tịch thì: “Khi đăng ký khai sinh cho trẻ em mà có người yêu cầu đăng ký nhận cha, mẹ, con thì cơ quan đăng ký hộ tịch kết hợp giải quyết thủ tục đăng ký khai sinh và thủ tục đăng ký nhận cha, mẹ, con như sau:
1. Hồ sơ gồm:
a) Tờ khai đăng ký khai sinh và Tờ khai đăng ký nhận cha, mẹ, con theo mẫu quy định;
b) Giấy chứng sinh hoặc giấy tờ thay Giấy chứng sinh theo quy định tại khoản 1 Điều 16 của Luật hộ tịch;
c) Chứng cứ chứng minh quan hệ cha, mẹ, con theo quy định tại Điều 11 của Thông tư này.
2. Các giấy tờ khác, trình tự giải quyết được thực hiện theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 16 và Điều 25 của Luật hộ tịch trong trường hợp thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp xã; theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 36 và Điều 44 của Luật hộ tịch trong trường hợp thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp huyện.
Nội dung đăng ký khai sinh xác định theo quy định tại Điều 4 của Nghị định số 123/2015/NĐ-CP. Giấy khai sinh và Trích lục đăng ký nhận cha, mẹ, con được cấp đồng thời cho người yêu cầu.”
Về chứng cứ chứng minh quan hệ cha, mẹ, con theo quy định tại Điều 11 Thông tư số 15/2015/TT-BTP ngày 16/11/2015 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật hộ tịch, gồm một trong các giấy tờ, tài liệu sau đây:
“1. Văn bản của cơ quan y tế, cơ quan giám định hoặc cơ quan khác có thẩm quyền ở trong nước hoặc nước ngoài xác nhận quan hệ cha con, quan hệ mẹ con.
2. Trường hợp không có văn bản quy định tại khoản 1 Điều này thì phải có thư từ, phim ảnh, băng, đĩa, đồ dùng, vật dụng khác chứng minh mối quan hệ cha con, quan hệ mẹ con và văn bản cam đoan của cha, mẹ về việc trẻ em là con chung của hai người, có ít nhất hai người thân thích của cha, mẹ làm chứng.
Cơ quan đăng ký hộ tịch có trách nhiệm giải thích rõ trách nhiệm, hệ quả pháp lý của việc cam đoan, làm chứng không đúng sự thật.
Cơ quan đăng ký hộ tịch từ chối giải quyết theo quy định tại Điều 5 của Thông tư này hoặc hủy bỏ kết quả đăng ký hộ tịch, nếu có cơ sở xác định nội dung cam đoan, làm chứng không đúng sự thật.”
Như vậy, theo các quy định trên thì trong thành phần hồ sơ giải quyết thủ tục đăng ký khai sinh kết hợp với thủ tục đăng ký cha nhận con không có giấy tờ về xác nhận tình trạng hôn nhân. Do vậy, việc UBND phường yêu cầu bạn cung cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân là trái với quy định của pháp luật về hộ tịch.
Admin Admin Admin