Cha mẹ tôi đã ly hôn năm 2010. Khi cha mẹ ly hôn, bố tôi chuyển đi nơi khác ở. Bà nội giữ tôi và mẹ tôi ở lại với bà tại căn nhà của bà, đến nay tôi và mẹ tôi vẫn ở với bà nội tôi. Năm 2015, bà nội...
(không đăng ký kết hôn) và con trai về nhà bà nội tôi. Bố tôi yêu cầu mẹ tôi ra khỏi nhà. Tôi muốn hỏi: Tôi và mẹ có được hưởng quyền lợi gì không?
Trả lời:
- Điều 66 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định giải quyết tài sản của vợ chồng trong trường hợp một bên chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết như sau:
1. Khi một bên vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì bên còn sống quản lý tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp trong di chúc có chỉ định người khác quản lý di sản hoặc những người thừa kế thỏa thuận cử người khác quản lý di sản.
2. Khi có yêu cầu về chia di sản thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về chế độ tài sản. Phần tài sản của vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế.
3. Trong trường hợp việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của vợ hoặc chồng còn sống, gia đình thì vợ, chồng còn sống có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế phân chia di sản theo quy định của Bộ luật dân sự.
4. Tài sản của vợ chồng trong kinh doanh được giải quyết theo quy định tại các khoản 1, 2 và 3 nêu trên, trừ trường hợp pháp luật về kinh doanh có quy định khác”
- Điều 612 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về di sản như sau: “Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác”.
- Điều 649 Bộ Luật Dân sự 2015 quy định thừa kế theo pháp luật như sau: “Thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định”.
- Khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về người thừa kế theo pháp luật như sau:
1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
Như vậy, trong trường hợp nếu ngôi nhà này đã được bà nội bạn cho bố mẹ bạn trong thời kỳ hôn nhân thì ngôi nhà được xác định là tài sản chung của vợ chồng, theo đó mẹ bạn mới có quyền sử dụng và quyền định đoạt đối với 1/2 diện tích nhà và đất hiện đang ở. Có nghĩa là mẹ bạn có thể tiếp tục ở lại trên 1/2 diện tích nhà. Nếu có tranh chấp đối với việc sử dụng và định đoạt ngôi nhà, mẹ bạn có thể khởi kiện tại Toà án nhân dân cấp huyện nơi có đất. Tuy nhiên, nếu ngôi nhà vẫn đứng tên chủ sở hữu là bà nội bạn và không được xác định là tài sản chung của bố mẹ bạn, trong khi đó bà nội bạn mất và không để lại di chúc, thì di sản thừa kế do bà nội bạn để lại sẽ được phân chia theo quy định pháp luật, có nghĩa là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định. Xét theo quy định này, mẹ bạn không thuộc hàng thừa kế nào nên không được hưởng di sản thừa kế đối với ngôi nhà này. Do đó, nếu bố bạn trở về đòi lại quyền sở hữu ngôi nhà, mẹ bạn chỉ có quyền yêu cầu bố bạn thanh toán các khoản chi phí cho việc trông coi ngôi nhà từ năm 2015 đến nay. Bạn là người được hưởng di sản thừa kế ở hàng thừa kế thứ hai nên bạn chỉ được hưởng thừa kế khi không còn ai ở hàng thừa kế thứ nhất do đã chết, hoặc không có quyền hưởng di sản, hoặc bị truất quyền hưởng di sản, hoặc từ chối nhận di sản. Do đó, bạn cũng không được hưởng quyền thừa kế đối với ngôi nhà này.
Như Quỳnh
Đỗ Như Quỳnh