Tin Tức

Cách tính số tiền phạt khi vi phạm Chỉ thị 15, Chỉ thị 16

Nhiều vi phạm dễ mắc phải tại Chỉ thị 15 và Chỉ thị 16

Để phòng chống Covid-19 một cách tốt nhất, nhiều địa phương sẽ tăng cường xử phạt những trường hợp vi phạm quy định tại các Chỉ thị 15, 16. Một số lỗi người dân dễ mắc phải gồm:

– Không đeo khẩu trang nơi công cộng.

– Không giữ khoảng cách tối thiểu khi giao tiếp.

– Tụ tập quá số lượng quy định nơi công cộng, ngoài phạm vi công sở, trường học..

– Ra đường trong những trường hợp không thật sự cần thiết.

Cách tính số tiền phạt khi vi phạm Chỉ thị 15, Chỉ thị 16 (Ảnh minh họa)

Cách tính số tiền phạt khi vi phạm

Theo Khoản 4 Điều 23 Luật XLVPHC 2012 được sửa đổi bởi Khoản 9 Điều 1 Luật XLVPHC 2020 đã quy định cụ thể về cách tính số tiền phạt vi phạm hành chính như sau như sau:

– Mức tiền phạt cụ thể đối với một hành vi vi phạm hành chính là mức trung bình của khung tiền phạt được quy định đối với hành vi đó;

– Trường hợp có tình tiết giảm nhẹ thì mức tiền phạt có thể giảm xuống nhưng không được thấp hơn mức tối thiểu của khung tiền phạt;

– Trường hợp có tình tiết tăng nặng thì mức tiền phạt có thể tăng lên nhưng không được vượt quá mức tối đa của khung tiền phạt.

Ví dụ: TP HCM đang thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị 16, A ra đường nhưng không có lý do chính đáng sẽ bị xử phạt theo quy định tại Nghị định 177/2020/NĐ-CP.  Cụ thể:

Xem Thêm  Kích cầu dài hạn có gây lạm phát ?

Theo điểm a khoản 1 Điều 12 Nghị định 177, A ra đường trong thời gian giãn cách xã hội theo Chỉ thị 16 nhưng không có lý do chính đáng bị phạt tiền từ 01-3 triệu đồng. Trong quá trình làm việc, anh A phối hợp rất tốt cũng như không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ nào.

Vì vậy: Số tiền phạt của A = ( 1.000.000 + 3.000.000)/2 = 2.000.000 đồng.

Theo Điều 9, 10 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng được xác định như sau:





Tình tiết tăng nặng

Tình tiết giảm nhẹ

– Vi phạm hành chính có tổ chức;


– Vi phạm hành chính nhiều lần; tái phạm;


– Xúi giục, lôi kéo, sử dụng người chưa thành niên vi phạm; ép buộc người bị lệ thuộc vào mình về vật chất, tinh thần thực hiện hành vi vi phạm hành chính;


– Sử dụng người biết rõ là đang bị tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi để vi phạm hành chính;


– Lăng mạ, phỉ báng người đang thi hành công vụ; vi phạm hành chính có tính chất côn đồ;


– Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vi phạm hành chính;


– Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, thiên tai, thảm họa, dịch bệnh hoặc những khó khăn đặc biệt khác của xã hội để vi phạm hành chính;


– Vi phạm trong thời gian đang chấp hành hình phạt của bản án hình sự hoặc đang chấp hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính;


– Tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm hành chính mặc dù người có thẩm quyền đã yêu cầu chấm dứt hành vi đó;


– Sau khi vi phạm đã có hành vi trốn tránh, che giấu vi phạm hành chính;

– Người vi phạm hành chính đã có hành vi ngăn chặn, làm giảm bớt hậu quả của vi phạm hoặc tự nguyện khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại;


– Người vi phạm hành chính đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi; tích cực giúp đỡ cơ quan chức năng phát hiện vi phạm hành chính, xử lý vi phạm hành chính;


– Vi phạm hành chính trong tình trạng bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người khác gây ra; vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng; vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết;


– Vi phạm hành chính do bị ép buộc hoặc bị lệ thuộc về vật chất hoặc tinh thần;


– Người vi phạm hành chính là phụ nữ mang thai, người già yếu, người có bệnh hoặc khuyết tật làm hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;


– Vi phạm hành chính vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không do mình gây ra;


– Vi phạm hành chính do trình độ lạc hậu;

Trung Tài


HỎI ĐÁP PHÁP LUẬT LIÊN QUAN

Related Articles

Leave a Reply

Back to top button